Thương nhớ Ban Mê

“Còn thương nhau... thì về Ban Mê Thuột ". Chắc chắn tôi còn về Ban Mê Thuột một vài lần nữa bởi tôi còn thương, còn nhớ núi rừng Tây nguyên này nhiều lắm. Thương mùa hoa cafe trắng muốt bạt ngàn, thương cái hùng vĩ của những ngọn thác tung bọt trắng xoá. Thương cái tính mến khách thân thiện của con người nơi phố núi, và thương nhất cái hương vị đậm đà của ly cafe mà ở Hà Nội chắc chắn không có được. Mỗi lần nghĩ đến Ban Mê Thuột, tôi luôn dành một tình cảm nồng nhiệt, chân thành nhất về mảnh đất và con người nơi đây. Ban Mê không phải là một thành phố du lịch đông đúc và sầm uất, nhưng vẫn có một sức hút riêng mà tôi tin ai đặt chân đến một lần đều không thể quên. 

Một ngày Hà Nội cứ nắng mưa ỡm ờ còn Ban Mê thì khô roong và nắng ráo, tôi đặt chân đến sân bay Hoà Bình, cách trung tâm thành phố 7km và hít hà lấy chút nắng chút gió của phố núi. 

 

Sự hân hoan của tôi bắt đầu ngay từ khi máy bay chuẩn bị hạ cánh. Từ trên máy bay nhìn xuống thành phố là những mái nhà nằm san sát nhau và được bao bọc bởi những cánh rừng màu vàng úa rất đặc trưng mà sau này tôi mới biết màu vàng ấy là của vườn quốc gia Yok don . Có lẽ do khí hậu khắc nghiệt của nắng gió và đất bụi nơi đây nên cây cối cũng thiếu đi sự mỡ màng vốn có và tự thích nghi bằng những cách riêng, mạnh mẽ và kiên cường như chính con người vùng đất Bazan.


Trước khi đến Ban Mê, tôi được cô bạn thân giới thiệu có bà chị họ hàng xa là dân gốc ở đó và dặn đi dặn lại tôi phải gặp chị. Ngại nhờ vả, nhưng tới nơi, theo phép lịch sự tôi vẫn gọi báo cho chị rằng tôi đã có mặt và định bụng nếu chị rảnh thì hẹn đi café để kể chuyện về bạn tôi cho chị nghe. Vậy mà nghe điện thoại xong, chị vồn vã muốn gặp chúng tôi ngay.

Chị đẹp, trẻ và hồn hậu, có dáng vẻ một người phụ nữ từng trải và mang theo 3 thằng nhóc,  đứa lớn nhất lớp 5, thứ lớp 1 và nhỏ nhất 4 tuổi, đen nhẻm. Đón chúng tôi tại ngã 6 Ban Mê, chị nhanh nhẹn hỏi: “ Mấy đứa ăn gì chưa, mới vào chắc còn mệt hả, đi ăn bún đỏ nhớ. Vào đây là phải ăn bún đỏ, chị thấy người Bắc vào đây là mê món này lắm”. Nói là làm, 3 mẹ con chị phóng trước, nhanh như một con gió. Chúng tôi lóp ngóp theo sau. 

Theo lời giới thiệu mộc mạc ấy, chúng tôi thử món bún đỏ, thử một lần để rồi bị mê hoặc. Con đường Phan Đình Giót giao với Lê Duẩn dài có gần 100m nhưng có đến hơn chục quán bún đỏ, quán nào cũng đông khách. 

Tô bún đỏ được bê ra với màu đúng như tên của nó, sợi bún to tròn cỡ chiếc đũa ăn dai dai giòn giòn. Cái tên bún đỏ chính là vì màu của sợi bún thấm đẫm các gia vị, màu điều, màu gạch tôm. Món bún đỏ lạ miệng với vị ngon ngọt của mỡ hành, tóp mỡ gián ròn, nước dùng thanh mát đậm đà thêm vào đó vài quả trứng cút đã được bóc vỏ, ăn kèm rau cần, bi chuối và giá đỗ. Tất cả tạo nên một sự hài hoà đến lạ miệng. Cái hay của món bún đỏ là khi mới ăn thì cứ thấy quen quen như bánh canh, bún riêu của nơi nào đó. Giống thì giống thế thôi,  bắt chước món này một tí, món kia một tí nhưng bún đỏ tạo ra cái riêng khó mà lẫn được và cái đặc biệt chính là màu của nước dùng mang đậm dấu ấn của vùng đất bazan, màu đỏ gạch. Tô bún làm ở đây khéo đến lạ, nhỏ vừa phải, ăn xong thấy bụng mới lưng lửng, muốn gọi thêm bát nữa thì sợ no quá, mà không ăn thì cứ thòm thèm, tiêng tiếc. Đứng dậy trả tiền mà cứ vẩn vơ muốn ăn thêm. Mà hay lắm nhé, muốn ăn bún đỏ, phải biết canh giờ. Buổi sáng hôm sau tôi tìm khắp thành phố cũng không thấy nơi nào bán món ăn này để ăn sáng. Hỏi ra mới biết món bún đỏ chỉ bán độ khoảng 3, 4 giờ chiều.

Thấy chúng tôi xuýt xoa món bún đỏ, chị cười bảo cứ từ từ mà thưởng thức lần lượt mấy món ăn ở đây, thích thì tối nào chị cũng đưa mấy đứa đi. Rồi chị kể về Tây Nguyên, về Buôn Mê Thuột, về món ăn ở đây và về những nơi mấy đứa muốn đi trong vài ngày ở Ban Mê bằng giọng tự hào và dễ mến vô cùng. Phải yêu và hiểu về mảnh đất này lắm thì chị mới biết nhiều thứ như vậy. Chị thân thiện, thẳng thắn nhưng không thiếu sự khéo léo khiến chúng tôi thấy thân quen như tự bao giờ. 

Khác hẳn với những gì tôi lo lắng về thời tiết, buổi tối khá dễ chịu.  Lượn lờ qua vài con phố để tận hưởng không khí phố núi, chúng tôi đùa nhau rằng “thành phố bé thế thôi” đi lòng vòng bao xa cũng chẳng thể lạc.  Đi thêm chút nữa đến phố Y Jút và Nơ Trang Long, thấy chợ đêm tấp nập và sắc màu. Chợ đêm ở đây bố trí không khác chợ đêm của Hà Nội là mấy nhưng nhỏ xinh và bán rất nhiều món đồ đặc trưng của địa phương như gùi, ché rượu cần và những sản phẩm thủ công thổ cẩm. Tiết trời dễ chịu, nắm tay nhau qua từng gian hàng, xà xuống ngắm thứ này một chút, thứ kia một chút, nhặt nhạnh những chiếc túi thổ cẩm có hoạ tiết của người Ê đê về làm quà, thấy phố núi về đêm vui vui lạ.

Rời chợ đêm, trở về khách sạn nhỏ xinh trên đường Điện Biên Phủ, chúng tôi thấy chị ở đó tự lúc nào, trên tay lỉnh kỉnh nào bơ, nào đu đủ với sầu riêng, bảo cho mấy đứa ít trái cây nhà trồng. Cứ thế, thật tự nhiên, chúng tôi được chị chăm sóc như những đứa em xa nhà lâu ngày gặp lại.


Rồi tôi ngủ thiếp đi, để câu chuyện về Buôn Mê Thuột len lỏi vào trong cả giấc mơ, rằng cái tên của mảnh đất này chính là tên vị tù trưởng tôn kính mà người dân buôn làng yêu mến  gọi là “Buôn của A ma Thuật”. Chẳng biết từ bao giờ cái tên ấy được đọc chẹo đi là Ban Mê Thuột hay là Buôn Ma Thuột. Thế nhưng ý nghĩa của nó sẽ mãi không bao giờ thay đổi, mang tên của vị tù trưởng vĩ đại và nhớ đến một vùng đất trù phú đẹp xinh. Bất giác tôi thấy mình trong trang phục của cô gái Ê đê băng qua những cánh rừng già màu vàng, trên mình chú voi khổng lồ đi giải cứu buôn làng. 

Bình minh Ban Mê đón chúng tôi bằng những tia nắng xiên qua cửa kính, bằng ly cà phê thơm đến mê mải. Và hành trình ngày mới của chúng tôi là Buôn Đôn. 

Buôn Đôn nằm cách thành phố 50km, chạy thẳng theo hướng đường Phan Bội Châu. Khác hẳn với suy nghĩ ban đầu của tôi rằng đường đi hẳn là xấu và gồ ghề lắm, từng ụ đất cao những ổ voi ổ gà và sình lầy đất đỏ, những con đường nhựa thẳng tắp trải dài với những vườn café và hồ tiêu bên đường, thỉnh thoảng lại vàng rực cả một góc là những hàng cây muồng hoàng yến hoa vàng, khiến cái nắng, cái gió của Tây Nguyên bỗng trở nên thi vị. Xa xa, những vườn hồ tiêu bạt ngàn, những vườn café hoa trắng phau với bướm bay rợp trời. Chúng tôi chẳng ai bảo ai cùng dừng lại, vít những cành hoa trắng muốt, hít căng lồng ngực thứ hương cao nguyên thơm lừng ấy.

Đến Buôn Đôn sau một chặng đường khá dài, giấc mơ đêm qua dường như vẫn còn dư âm trong tôi, nên điều tôi muốn làm đầu tiên là được mặc trên mình trang phục của người con gái Ê đê. Chiếc váy bó, ôm sát lấy thân hình, được thêu dệt các đường hoa văn ngang dọc ở vai, nách, cổ tay, gấu áo và đính thêm những tua chỉ màu vào vai áo, trông rất duyên dáng, người Buôn Đôn gọi là áo Đếch.  Bận chiếc áo Đếch, mang thêm chiếc gùi nhỏ để đựng hoa, trông tôi ra dáng gái Ê đê lắm rồi. 

Theo chân cô hướng dẫn viên người bản địa mới chỉ 18 tuổi, với chất giọng lơ lớ, chúng tôi được nghe về những dụng cụ săn bắt và thuần dưỡng voi, những phong tục tập quán của người Ê Đê, những huyền bí, ma quái của vùng đất này khi thăm khu nhà mồ với những ngôi mộ cổ. Băng qua nhà dài, chúng tôi may mắn được tham dự một buổi sinh hoạt văn hoá cộng đồng cùng người dân ở đây và được thưởng thức đúng chất men của đồng bào trong chiếc ché cổ. Khi tiếng cồng chiêng rộn rã vang lên, tất cả chúng tôi cùng đứng lên nắm tay nhau theo những điệu múa lắc lư nhịp nhàng của người Ê đê. Với tôi, đó là những trải nghiệm đáng nhớ trên mảnh đất giàu văn hoá này.

Tạm biệt cô hướng dẫn viên duyên dáng, chúng tôi tiếp tục khám phá Buôn Đôn trên những chiếc cầu treo bằng tre vắt ngang con suối được níu chắc vào thân cây si. Bước trên những chiếc cầu treo khổng lồ dập dềnh theo mõi bước chân, thấy hoang mang, sợ hãi, nhưng khi chạm đến đầu bên kia cầu lại có cảm giác mình là người chiến thắng. Nhưng khó quên nhất có lẽ vẫn là cái cảm giác gập ghềnh, lắc lư chỉ chực ngã khi ngồi trên lưng voi vượt sông Serepok. Buôn Đôn cho chúng tôi thỏa mãn sự háo hức và tận tay gần gũi những chú voi khổng lồ. Với người Buôn Đôn, voi là cơ nghiệp, là bạn đường, là tri kỷ, có lẽ bởi thế mà để cảm tạ con vật này, khu lăng mộ cho vua Voi ở đây đã trở thành một tuyệt tác cầu kì.

Tạm biệt Buôn Đôn với những chiếc cầu treo khổng lồ dập dềnh, những chú voi khổng lồ thuần tính và những ché rượu cần thơm ngon, chúng tôi đến cụm thác Dray Sap, DrayNu và Gia Long. Có lẽ tôi không cần phải dùng bất cứ tính từ hoa mỹ nào để tả về cụm thác này, bởi nó là món quà mà mẹ thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho Tây Nguyên. 

Dray Sáp, Dray Nur còn được gọi là thác vợ thác chồng. Đường tới thác băng qua một khu rừng nhỏ, xanh mướt. Từ xa đã nghe thấy tiếng thác nước chảy, háo hức lắm. Cứ đi men theo rừng, chẳng mấy chốc mà trước mắt tôi là hàng nghìn mét khối nước dội từ trên cao xuống như một dải yếm khổng lồ. Thả mình trên những phiến đá phẳng bên bờ thác, cảm nhận cái mát lạnh mơn man trên da thịt, theo từng hạt nước li ti. Men theo những tảng đá nhỏ xuống dòng thác, nước trong vắt mát lạnh thấy cả những cá với cua tung tăng trong hốc đá. Núi rừng Tây Nguyên cho người ta một cảm giác được sống với chính mình, trong sự thuần khiết mát lành nhất của thiên nhiên.

Khác với vẻ đẹp “dữ dội” của Dray Nur, Dray Sap, thác Gia Long yên ả hơn trong màu xanh ngọc bích của nước hồ dưới chân thác. Để đến thác Gia Long, chúng tôi phải đi thêm khoảng 7 km từ đường lớn vào và đi xuyên qua rừng. Đường đến thác khá …lãng mạn và hoang sơ. Hai bên là rừng và cây lớn, thỉnh thoảng có những thảm hoa trắng phủ kín mặt đường. Sự vắng vẻ khiến chúng tôi cứ có cảm giác như những nhà thám hiểm đi kiếm tìm thế giới bị lãng quên trong rừng già Amazon. Không có người để hỏi đường đến thác, chúng tôi lắng nghe tiếng nước chảy, vạch bụi lá và vỡ oà khi thấy trước mắt một bức tranh sơn thuỷ tuyệt đẹp, cứ ngỡ mình đi lạc chốn thần tiên. Trước mắt tôi, cái màu xanh lục của nước hồ dưới chân thác huyền hoặc đến kỳ lạ. Nó khiến tôi đứng chết trân lặng ngắm, để rồi thèm được lao mình xuống màu xanh ấy, gột rửa hết những mệt mỏi sau một hành trình dài. Sau này mỗi khi nhớ đến Buôn Mê Thuột, nhớ đến Tây Nguyên là tôi nhớ đến màu xanh ấy, đến sự hoang sơ của núi của rừng. 

Bích Ngọc

 

 

Tin mới nhất
Tin đã đăng
25
3/2018
Hà Nội: G8 số 96 Định Công, Phường Phương Liệt, Quận Thanh Xuân.
Điện thoại:04 3200 5656 - Fax: 04 3201 5656
Email: toasoan@vietnamtraveller.vn
TP HCM: Số 398 đường Trường Sa, Phường 2, Quận 3
Điện thoại:08 3600 6559 - 0907 505 012
Email: toasoan@vietnamtraveller.vn
Ghi rõ nguồn vietnamtraveller.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.